Chuyên đề về “Điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, điều trị HIV/AIDS ở trẻ em” tại Hội nghị khoa học quốc gia về HIV lần thứ VI

Lượt xem: 801 15/10/2016 nhóm tin: Báo cáo khoa học

Phiên họp do PGS.TS. Phạm Nhật An, Bệnh viện Nhi Trung ương; PGS.TS. Lưu Thị Hồng, Bộ Y tế; TS. Masaya Kato, Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam; TS. Todd Pollack, Tổ chức hợp tác phát triển y tế tại Việt Nam đồng chủ trì. 


chuyen-de-7-1-.jpg 
Hình ảnh: Đại biểu báo cáo tại chuyên đề

Tại phiên họp, các đại biểu đã được các báo cáo viên chia sẻ 5 nội dung chính gồm: “Tiến triển trong khu vực về dự phòng lây truyền HIV và giang mai từ mẹ sang con” của TS. Ying Rulo, tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương. Trong nghiên cứu, đã chỉ ra: vấn đề nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai trong khu vực vẫn duy trì thấp trong các thập kỷ qua; việc tiến tới loại trừ lây truyền ở các vùng dịch tập trung đòi hỏi cần có cam kết chính trị và cách tiếp cận mới; độ bao phủ xét nghiệm HIV ở phụ nữ mang thai và trẻ em tăng đáng kể từ năm 2000; Trong khoảng thời gian 2009-2015 nhiễm mới HIV ở trẻ em giảm 16%; Cần các cơ chế sáng tạo để không bỏ sót cơ hội hiếm có cho việc loại trừ HIV và giang mai; Loại trừ lây truyền mẹ con là một ưu tiên lớn để đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh cho các bà mẹ và trẻ em.

chuyen-de-7-2-.jpg
 
Hình ảnh: Quang cảnh chuyên đề


Bài trình bày về “Mô hình lồng ghép dự phòng lây truyền HIV, viêm gan B, giang mai từ mẹ sang con” do TS. Nguyễn Thị Thúy Vân, Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam trình bày. Báo cáo đã chỉ ra rằng: việc lồng ghép dự phòng lây truyền HIV, HBV và giang mai từ mẹ sang con là có thể và nên được coi là một phần của gói chăm sóc chuẩn trước sinh; Cần có sự đầu tư để XN HIV, HBV và giang mai cho PNMT; Đầu tư cho dự phòng lây truyền mẹ con để ngăn ngừa nhiễm HIV, HBV và giang mai ở trẻ em và tiết kiệm chi phí điều trị trong tương lai.

TS. Cao Thị Thanh Thủy, Quỹ Sáng kiến tiếp cận Y tế Clinton trình bày về “Can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở trẻ dưới 18 tháng tuổi được làm xét nghiệm PCR tại 29 tỉnh, giai đoạn 2010-2012”. Báo cáo đã chỉ ra được: Tỷ lệ phụ nữ mang thai phát hiện nhiễm HIV muộn khi chuyển dạ và sau sinh cao làm làm tăng cơ hội không nhận được can thiệp dự phòng bằng ARV; Tỷ lệ nhiễm HIV ở trẻ  thấp khi  mẹ được điều trị ARV bằng 3 thuốc giai đoạn mang thai; Hạn chế kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về PLTMC,  không sẵn có dịch vụ PLTMC và kỳ thị, phân biệt đối xử là  rào cản thực hiện  PLTMC dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao ở trẻ. Chính vì vậy, cần tăng cường xét nghiệm HIV sớm cho PNMT và điều trị ARV 3 thuốc để PLTMC hiệu quả. Tăng cường triển khai các chính sách, hướng dẫn mới có liên quan đến PLTMC để tăng tiếp cập xét nghiệm HIV và điều trị ARV cho  PNMT, phụ nữ nhiễm HIV cho con bú.

TS. Trần Tôn, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh với bài trình bày về “Theo dõi HIV kháng thuốc ở trẻ em điều trị ARV phác đồ bậc 1 tại 2 bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo đã đưa ra các khuyến nghị: Cần có các biện pháp can thiệp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận chương trình chăm sóc – điều trị cho trẻ em sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; Đã ghi nhận đột biến gây kháng chéo nhiều thuốc cùng lúc và những chủng HIV tích lũy nhiều đột biến kháng thuốc chỉ sau 12 tháng điều trị nên cần tiếp tục triển khai thực hiện những nghiên cứu và giám sát tình trạng kháng thuốc để có thể cập nhật thông tin về tình hình kháng thuốc kịp thời cho hướng dẫn Quốc gia về điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS; Mắc lao và điều trị lao cùng lúc với điều trị ARV có thể liên quan đến việc xuất hiện HIV kháng thuốc nên đây là điều cần lưu ý để xem xét và bổ sung cho hướng dẫn điều trị 

Báo cáo cuối cùng của chuyên đề này là “Xét nghiệm HIV trễ lúc chuyển dạ tại thành phố Hồ Chí Minh, 2007-2011” do BS. Nguyễn Thị Kim Chi thuộc Trung tâm dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ tại Việt Nam trình bày. Tác giả đã nhấn mạnh việc xây dựng các chiến lược nhằm tăng cường việc thai phụ được XN HIV sớm và dùng ARV sớm, đặc biệt tập trung vào nhóm phụ nữ có trình độ học vấn thấp hoặc từ các tỉnh khác. Cải thiện việc ghi chép XN HIV, chuyển gửi và chia sẻ thông tin về XN HIV và điều trị ARV giữa các cơ sở y tế.

Hai điểm chính được hội đồng đưa sau khi nghe các báo cáo tại chuyên đề này gồm: Tỷ lệ phụ nữ mang thai phát hiện nhiễm HIV muộn khi chuyển dạ và sau sinh vẫn còn cao và điều này làm giảm cơ hội dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng thuốc ARV và hạn chế kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con,  sự không sẵn có dịch vụ PLTMC, kỳ thị và phân biệt đối xử là rào cản trong việc tăng tiếp cận đối với các can thiệp PLTMC dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao ở trẻ.

Theo VAAC


Tin liên quan

    Video

    Thăm dò ý kiến